Thủ tục ly hôn khi có vợ hoặc chồng là người nước ngoài, thời điểm ly hôn có một bên không cư trú tại Việt Nam

(Ngày đăng:01-01-1970 - Lượt xem: 760)

Tôi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh. Nay tôi muốn đơn phương ly hôn với người chồng hiện đang ở Hàn Quốc. Tôi phải nộp hồ sơ ly hôn ở Tòa án nào?

1/ Căn cứ pháp lý

– Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 – Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 – Văn bản hướng dẫn Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hôn nhân và gia đình

2/ Ly hôn có yếu tố nước ngoài

Khi mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng trầm trọng,cuộc sống vợ chồng không chia sẻ được với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét cho ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Thủ tục ly hôn được tiến hành tại tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong trường hợp hai vợ chồng thỏa thuận được tất cả những vấn đề, Tòa án sẽ thực hiện theo thủ tục ly hôn thuận tình. Tòa án ra quyết định công nhận ly hôn. Nếu không đồng thuận tất cả các vấn đề liên quan (quan hệ vợ chồng, quyền nuôi con, cấp dưỡng, tài sản) thì thực hiện theo thủ tục ly hôn đơn phương, Tòa án sẽ tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

  1. Quy định của pháp luật về thuật ngữ có yếu tố nước ngoài

Thuật ngữ "có yếu tố nước ngoài” được giải thích tại Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP như sau: "1. Đương sự ở nước ngoài bao gồm:

  1. a) Đương sự là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  2. b) Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  3. c) Đương sự là người nước ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  4. d) Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;

đ) Cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự.

  1. Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha, mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam.
  2. Tài sản ở nước ngoài

Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 ở ngoài biên giới lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự.”

  1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn:

– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn là tòa án nhân dân cấp tỉnh. Trừ trường hợp hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam (Khoản 3 Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP). Về thẩm quyền theo cấp Tòa án: Căn cứ Điều 35, Điều 37, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo cấp những vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài (có người ở nước ngoài hoặc có tài sản ở nước ngoài) thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố giải quyết. Về thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ: theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015  thì thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ đối với tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân và gia đình được xác định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì căn cứ điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết; Tóm lại: - Nếu bị đơn (người bị kiện) có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết; - Nếu bị đơn (người bị kiện) không có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi nguyên đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết.

Các tin khác: